Chuyện những người “cõng phim” lên rừng, xuống biển

05/05/2011
admin
FacebookTwitterDeliciousStumbleuponDiggMyspaceLinkedInZingmegovnlinkhay

(TGĐA) – Chiếu phim lưu động – một nghề thầm lặng, là cái nghiệp âm thầm rất dễ bị bỏ quên trong thời hối hả sống gấp như hôm nay. Mấy ai biết được những con người đầy tâm huyết theo đuổi cái nghề mà người khác thường hay đùa là “nghề không tên”, “những người cõng phim lên rừng xuống biển” hoặc “nghề gần dân xa nhà”

Nơi phim thiếu chỗ thừa phim

Tại các rạp chiếu phim lớn tại Hà Nội như Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, Megastar… hay các rạp Galaxy, Vinh Quang Cinema… ở TP. Hồ Chí Minh, người ta dành một khoảng không gian rất lớn, khá cao và rất đẹp treo những tấm poster phim cỡ lớn để bất cứ người nào đi qua cũng có thể nhìn thấy được. Phim Mỹ mùi mẫn, nóng bỏng, đầy rẫy bạo lực, súng ống; phim Anh cũng mùi mẫn, lãng mạn và cũng không kém phần nóng mắt; phim Hàn ngự trị các rạp chiếu… Vé phim các nước này rất dễ bán và là nguyên nhân cò kè của các đối tượng phe vé.

Chuẩn bị cho buổi chiếu

Chuẩn bị cho buổi chiếu

Phim Việt Nam cũng có những tấm poster rất to nhưng trông thế treo tại các rạp thật e ấp… Vé bán ra mấy ai mua và cũng chẳng mấy ai phóng ánh mắt lên nhìn những poster ấy! Những Tây Sơn hào kiệt, Long Thành cầm giả ca, Nhìn ra biển cả, Khát vọng Thăng Long… ra rạp và chen lẫn giữa vô số phim ngoại. Chúng không thắng nổi phim Anh, Mỹ, Hàn… nhưng ở một địa điểm nào đó những bộ phim “thừa” này lại rất hút khách. Nhưng mấy ai biết được chuyện này, chỉ những người chiếu phim lưu động biết rõ hơn cả.

Ở Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố lớn phim ảnh trở nên thừa thãi vì chúng hiện hữu quá nhiều nơi. Phim ở dạng DVD, tại các rạp chiếu, phim trên tivi, phim nằm trên các kệ đĩa tại các cửa hàng băng đĩa thi nhau mọc lên như nấm sau mưa… Người xem tha hồ chọn và xem. Đó là ở thành phố, còn nông thôn phim chỉ có trên tivi thôi, nếu may mắn mua được đĩa lậu… Còn vùng sâu vùng xa, phim ở đâu ra? Chuyện điện đóm thì túng, tivi thì lại hiếm… phim chỉ có ở “rạp” chiếu phim lưu động.

Cứ tưởng thời nay, công nghệ thông tin bùng nổ, điện đến mọi nhà sẽ không có đâu những người vất vả vượt qua trăm chục cây số mang phim đến với dân bản xa xôi phục vụ miễn phí tất cả, mang phim “thừa” từ thành thị đến với những chiến sĩ công tác vùng biên nơi xa lắc xa lơ… Điện không phải nơi nào cũng có, bởi có những vùng xa, điện chưa đến được với dân nên họ chẳng có khái niệm văn hóa tinh thần qua tivi. Vẫn còn đó những ánh mắt trông ngóng những âm thanh của tiếng máy chiếu chạy và những hình ảnh sinh động từ phông chiếu. Dân khi nào còn “thèm” những món ăn tinh thần qua phim ảnh thì đồng nghĩa vẫn còn đó mô hình chiếu phim lưu động của các đội chiếu phim ở các đơn vị quân đội – những con người không quản ngại gian khó, vất vả mang phim về phục vụ đồng bào, chiến sĩ vùng xa…

Cảnh phim Khát vọng Thăng Long

 

Cảnh phim Khát vọng Thăng Long

Nhiều người cũng không biết nên định nghĩa thế nào cho đúng về nghề chiếu bóng lưu động. Đơn giản người ta hiểu đây là cái nghề mang phim, máy chiếu, phông chiếu và những thứ có liên quan đến máy móc, điện đóm đến những nơi vùng sâu vùng xa, nơi hải đảo xa xôi, nơi vùng biên giáp giới, nơi không có điện, nơi khó khăn về địa hình địa thế… Những nơi đó thường chính là nơi những cán bộ chiếu bóng lưu động mang phim đến.

Tuy nhiên, khác với những rạp chiếu phim thành thị có rất nhiều phim để khán giả lựa chọn, các “rạp chiếu phim” di động của những cán bộ chiếu bóng lưu động có số đầu phim ít. Họ cũng không có những loại hình giải trí kèm theo “rạp chiếu phim”, chỉ có nhiều nhất là tình yêu nghề, trách nhiệm và tâm huyết. Nếu những bộ phim Việt Nam kinh điển về đề tài cách mạng như Chị Tư Hậu, Vĩ tuyến mười bảy ngày và đêm, Giải phóng Sài Gòn, Hà Nội 12 ngày đêm, Chung một dòng sông… rất dễ bị khán giả thời nay nhất là người trẻ bỏ quên thì chúng lại trở thành món ăn tinh thần vô cùng thú vị cho các anh bộ đội đóng quân và bà con vùng sâu vùng xa. Nếu ở những rạp chiếu phim lớn, các bộ phim lịch sử Việt Nam mới sản xuất như Nhìn ra biển cả, Tây Sơn hào kiệt, Khát vọng Thăng Long… nằm ế ẩm khi không bán được vé thì chúng lại trở thành niềm say mê bất tận cho những người không có điều kiện tiếp xúc nhiều với văn hóa, những bộ phim mới ra lò…

Khán giả  tụ tập xem phim

Khán giả tụ tập xem phim

Theo Đại tá Nguyễn Anh Tuấn – Trưởng phòng phát hành phim Băng hình Quân đội cho biết: “Chiếu phim lưu động tuy không vất vả như thời trước nhưng người dân vùng sâu vùng xa vẫn đón đợi những buổi chiếu phim – vì với họ đó là buổi sinh hoạt chung vui vẻ, bổ ích…” Còn chị Lê Thị Thành Dung (ở thôn Phong Lan, xã Hoằng Tiến, Hoằng Hóa, Thanh Hóa) hồ hởi nói: “Cuộc sống ngày càng phát triển, chúng tôi vẫn có thể xem phim trên tivi, đầu đĩa, internet… nhưng chúng tôi vẫn thèm xem phim truyện nhựa lắm. Nhưng khổ một nỗi muốn đi xem phim kiểu này chúng tôi phải đi gần ba mươi cây số lên tận thành phố Thanh Hóa mới xem được”.

Nghề chiếu phim lưu động – không dễ!

Đối với những đơn vị đóng quân vùng sâu vùng xa, giáp biên hải đảo và những bà con nơi đây họ không có nhiều điều kiện tiếp xúc với công nghệ thông tin, các loại hình văn hoá giải trí. Vì vậy họ luôn cần đến những loại hình giải trí mang tính cộng đồng cao. Các đơn vị chiếu bóng lưu động tuy chỉ đáp ứng phần nào đó sự “khát thèm” văn hoá nhưng lại có tính gắn kết rất cao. Mỗi buổi chiếu phim như một buổi sinh hoạt văn hoá tập thể. Phim chiếu phục vụ quân đội, đồng bào giúp mối quan hệ quân dân thêm gắn bó.

Anh Nguyễn Anh Tuấn cho biết: “Mỗi buổi chiếu phim thêm gắn bó quân và dân sâu sắc hơn. Và quý nhất là giúp sinh hoạt văn hoá tập trung được duy trì”. Anh cũng cho biết thêm, các buổi chiếu phim nhằm đảm bảo đời sống văn hoá tinh thần trong quân đội và yêu cầu mỗi tháng hai tối chiếu phim, bao gồm phim nhựa và phim địa hình. Trong đó phim nhựa có thể là phim Việt Nam hoặc phim nước ngoài mới nhất, phim địa hình là những phim truyện kinh điển của điện ảnh Việt Nam, phim tài liệu… Tất cả những tác phẩm trình chiếu đều phải qua chọn lọc, phù hợp với văn hoá, môi trường trong quân đội. Tiêu chí chọn phim, đó là: phim phải có tính giáo dục, tính chiến đấu, tình yêu có tính nhân văn, ví dụ các phim Việt Nam như Long thành cầm giả ca, Tây Sơn hào kiệt, Hoa đào, Nhìn ra biển cả… hoặc các phim nước ngoài như Ngàn ly không say, Mr hoàn hảo…

Chuẩn bị cho buổi chiếu phục vụ bà con

Chuẩn bị cho buổi chiếu phục vụ bà con

Anh cũng nói thêm, về tiêu chuẩn chiếu phim cho bộ đội là chính nhưng không vì thế mà chúng tôi không phục vụ cho nhân dân. Các buổi chiếu phim hầu như luôn có người dân tham gia. Chiếu phim trở thành lối sống văn hoá tinh thần có tính tập thể cao. Trước mỗi buổi chiếu phim, phải tuyên truyền gắn quân và dân với nhau. Có những buổi chiếu phim, yêu cầu phải có tọa đàm và phân tích phim.

Bên cạnh đó, nghề chiếu phim lưu động phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chuyên môn và qua đào tạo. Các trang thiết bị ngày càng được nâng cao, hiện đại hơn, vì thế cũng đòi hỏi những cán bộ chiếu phim phải được bồi dưỡng chuyên môn về điện ảnh, vận hành máy chiếu… Theo anh Lê Minh Tuyến – Chủ nhiệm Nhà Văn hoá quân đoàn III (đóng quân tại Pleiku – Gia Lai, quản lý bốn đội chiếu phim phục vụ các tỉnh ở Tây Nguyên) cho biết: “Cán bộ chiếu phim lưu động phải đạt yêu cầu về trình độ chuyên môn, phải qua đào tạo cơ bản về điện ảnh, máy chiếu… Có năng lực về công tác chính trị gắn với chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, cán bộ chiếu phim nên biết tiếng dân tộc cư trú trên địa bàn như Bana, Êđê… Ngoài ra, phải nắm bắt được hình thức, thể loại phim kết hợp với các đợt tuyên truyền như các ngày lễ của dân tộc, ngày lễ tết trong địa bàn đóng quân…”.

Tôi hỏi một anh bạn chạc tuổi tôi – anh thuộc đội chiếu phim lưu động quân đoàn III – Pleiku – Gia Lai về nghề chiếu phim lưu động phải đáp ứng được những gì? Anh bạn cười vui nói: “Niềm say mê có thừa. Tình yêu không dứt chỉ sợ lúc nào đó không đủ sức khoẻ để đi thôi”. Anh bạn nói về sức khoẻ khi tuổi còn trẻ có nghĩa anh đang ngầm nói sẽ gắn bó với công việc này đến lúc già… Không biết hoàn cảnh sau này sẽ tác động đến anh như thế nào nhưng anh cũng cho thấy sự quyết tâm trong công việc mà mình đang làm và cống hiến…

Đội chiếu bóng quân đội trong cuộc thi tay nghề sử dụng máy chiếu phim

Đội chiếu bóng quân đội trong cuộc thi tay nghề sử dụng máy chiếu phim

Nghề “dân quý, dân thương”

Nghề chiếu bóng lưu động như một lữ khách hài hước. Mỗi nơi họ đi qua đều nhận được nhiều tình cảm của bà con và chính họ cũng mang niềm vui đến cho những người dân “thèm phim”.

Anh Đỗ Văn Công – Đội trưởng Đội Chiếu phim Lưu động Bình Dương đã có thâm niên hai mươi ba năm trong nghề, rất giàu kinh nghiệm và cũng giàu tình yêu với nghề… Anh kể lại, có những nơi đội chiếu phim đi qua dân làng xem như người nhà. Họ vượt qua trên dưới chục cây số và thường đến trước mỗi buổi chiếu phim mấy tiếng đồng hồ. Lúc xem phim bà con vô cùng hào hứng, chăm chú theo dõi… Khi phim kết thúc họ lại nán lại giúp các anh cán bộ dọn đồ và hỏi các anh có quay trở lại đây không. Dĩ nhiên, các câu trả lời của các anh thường là có và nhiều nơi các anh đã trở lại trong niềm vui không tả xiết. “Dân quý mến và cho chúng tôi nhiều thứ lắm từ ly rượu vùng quê, miếng rau, củ sắn… Họ nghèo về vật chất nhưng rất giàu tình cảm và đó là cái bà con khiến chúng tôi cảm động.”

Anh Lê Minh Tuyến bày tỏ tình yêu và niềm vui không dứt về nghề nghiệp của mình, về những kỷ niệm trong quá trình làm nghề. Với anh nơi nào qua cũng có những kỷ niệm cảm động và đầy ý nghĩa. Anh nhớ nhất là lần chiếu phim vào năm 2007 tại huyện Đắc Lây (Kon Tum). Đội chiếu phim của anh khi đến nhà văn hoá thì đã năm giờ chiều, bà con nhân dân đã tập trung rất đông đủ. “Bà con giúp chúng tôi dựng phông chiếu, dọn đồ… rất nhiệt tình. Khi chuẩn bị xong mọi thứ thì trời lại đổ mưa. Bà con lại giúp chuyển vào nhà văn hoá huyện. Tuy nhiên bà con đến xem quá đông, không đủ chỗ, chen chúc nhau trong hội trường khiến bàn ghế gãy sập. Lúc đó trời lại tạnh mưa, bà con lại giúp chúng tôi chuyển ra. Mọi người chung tay làm khẩn trương chuẩn bị chiếu phim thì trời lại đổ mưa. Bà con thương chúng tôi lại nhanh tay giúp chuyển đồ vào nhà văn hoá. Dĩ nhiên chúng tôi không thể để bà con ra về khi đã vượt qua chặng đường dài có khi đến bảy, tám cây số mà chưa được xem phim. Ban chỉ đạo của huyện Đắc Lây nói với bà con rằng, ai ở xa thì ngủ lại nhà văn hoá, huyện sẽ cung cấp bánh mì cho bà con ăn sáng. Và đêm đó chúng tôi đã chiếu phim trong hội trường chật hẹp đông đúc người và rất vui vẻ”.

Anh Tuyến cho biết thêm: “Người đồng bào vùng xa nhiều lúc không tiếp thu được sự phát triển của thời đại hôm nay, chúng tôi đưa ánh sáng văn hoá về đến nơi nhưng nhận thức của họ chưa nhận thức như người đô thị”. Tuy nhiên những cán bộ chiếu phim lưu động như anh Tuyến vẫn làm nghề với niềm say mê bất tận.

Anh Phan Xuân Hoè – Đội trưởng Đội chiếu phim quân khu IV (đóng quân tại Nhà văn hóa quân khu IV, 191 Lê Duẩn – TP. Vinh – Nghệ An), kể về nghề với tiếng cười không ngừng. Không biết anh nói đến bao nhiêu từ “vui lắm”, “thích lắm”… khi được hỏi về nghề, về những kỷ niệm đội chiếu phim lưu động của anh có được. Anh cho biết: “Các tỉnh Huế, Quảng Trị, Quảng Bình… rất thích những phim về đề tài chiến tranh, các bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam như Giải phóng Sài Gòn, Đường thư, Hà Nội 12 ngày đêm, Hà Nội mùa đông năm 46, Chị Tư Hậu, Tiếng cồng định mệnh, Hoa ban đỏ, Cánh đồng hoang… Những tác phẩm này vẫn có chỗ đứng trong lòng những người dân vùng sâu vùng xa những nơi đây. Còn những phim về đề tài tình yêu, tình cảm bà con không thích lắm. Bộ phim nào có những cảnh quay hôn hít là họ thường quay mặt đi…”. Trong suốt buổi nói chuyện với anh Hoè, anh luôn cười, với ánh mắt luôn ánh lên niềm tự hào. Anh kể lại một kỷ niệm rất ngộ nghĩnh: “Đồng bào hồn nhiên lắm. Một hôm, khi đội của chúng tôi đến chiếu phim tại một bản làng nọ được bà con đón nhận rất nhiệt tình. Khi chiếu phim xong, trưởng bản đứng lên nói: “Cho tao cái máy này được không?” Chúng tôi phải giải thích rằng máy chiếu là của nhà nước, mang đi chiếu phim để phục vụ dân, cho dân vui… Sau  đó, trưởng bản không xin nữa”.

Đừng đốt là niềm mong mỏi của khán giả vùng sâu vùng xa

Đừng đốt là niềm mong mỏi của khán giả vùng sâu vùng xa

Anh Hoè quản lý 9 đội chiếu phim, phục vụ quân dân các tỉnh miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị… Nơi nào đội anh chiếu phim cũng nhận được tình cảm chân thành của quân và dân. “Đi đến đâu dân mến đến đó. Có khi dân yêu cầu chiếu phim liền mấy tối vì một tối họ thấy chưa thoả mãn. Tôi nhớ một lần chiếu phim Ngã ba Đồng Lộc trời mưa bà con vẫn say sưa ngồi xem anh Hoè cho biết thêm. Qua những làng xã, bản làng các đội chiếu phim thuộc quản lý của anh Hoè không ít lần được ban lãnh đạo đưa phong bì nhưng các anh kiên quyết không nhận, vì công việc chiếu phim không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm.

Mỗi lần cấp dưới của anh Hoè gặp vất vả, trở ngại anh thường động viên, khuyến khích chân thành. “Không chỉ tôi mà các anh em khác cũng rất yêu nghề và say sưa với công việc mà mình đã lựa chọn. Tôi luôn động viên anh em đây là công việc mang đến niềm vui cho quân và dân, phải vượt qua khó khăn, đã theo nghề thì phải nghĩ đó là cái duyên, cái nợ không dứt ra được”.

Khán giả chờ đón buổi chiếu lưu động

Khán giả chờ đón buổi chiếu lưu động

Chiếu bóng ngày nay không như ngày trước, bộ đội xuống giúp dân thì kết hợp chiếu phim cùng. Khi chiếu phim bà con hưởng ứng rất nhiệt tình nhất là những bà con vùng sâu vùng xa. Họ đến trước mỗi buổi chiếu phim từ một đến vài ba tiếng và khi chiếu phim xong họ không muốn về. Họ nán lại giúp đỡ chúng tôi dọn đồ và ngỏ ý muốn thêm một vài buổi chiếu phim nữa. Thấy bà con tích cực chúng tôi lại chiếu thêm” – Đây là những lời tâm sự của Thiếu uý Lê Thành Tâm – Đội trưởng Đội điện ảnh quân khu V (đóng quân tại TP. Đà Nẵng). Đội chiếu phim của anh Tâm đi phục vụ bà con vùng sâu vùng xa rất nhiều và cũng lưu giữ những kỷ niệm. “Có vùng, người dân khi đang xem phim luôn băn khoăn không hiểu người ở đâu ra. Họ chạy ra đằng sau phông chiếu xem người có ở đó không”…

Ở những vùng Tây Nguyên, miền Nam, miền Trung vất vả là thế, tại những vùng hải đảo miền Bắc quân dân “thèm” phim không kém và các cán bộ chiếu phim cũng rất vất vả, khổ nhọc… Anh Nguyễn Thanh Sơn – Đội trưởng đội chiếu phim của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh cho biết: “Địa bàn chiếu phim của đội bao gồm cả vùng núi và hải đảo, có những địa điểm chiếu cách thành phố Quảng Ninh đến gần 100 km hoặc những nơi hải đảo như huyện đảo Cô Tô phải đi tàu thuyền đến bốn tiếng đồng hồ. Tuy đường xá xa xôi, vất vả nhưng không vì thế mà những thước phim hay, có giá trị không được đưa đến cho những chiến sĩ và nhân dân vùng xa.” Những rạp chiếu phim của các anh thường rất đặc biệt, được dựng lên bất cứ đâu có thể miễn là nhân dân đón xem. Lần chiếu phim phục vụ bà con tại làng chài Cửu Vạn khiến anh Sơn và đội chiếu của mình thấy hào hứng vô cùng mỗi khi nhớ lại. “Chúng tôi dựng rạp chiếu trên những chiếc bè ghép lại, trên gió thổi, dưới bè sóng biển rập rờn nhưng những thước phim vẫn được chiếu lên. Lúc đó trong lòng mỗi chúng tôi đều rất vui vẻ khi chứng kiến hàng chục chiếc thuyền nối nhau san sát để bà con thưởng thức phim. Đó là buổi chiếu phim độc đáo, kì lạ và hiếm có”…

Tây Sơn hào kiệt là niềm say mê bất tận của khán giả vùng sâu vùng xa

Tây Sơn hào kiệt là niềm say mê bất tận của khán giả vùng sâu vùng xa

Chiếu phim lưu động – cái nghề âm thầm vẫn có giá trị riêng của nó, vẫn tồn tại và mang lại một niềm vui nho nhỏ cho những người dân vùng sâu vùng xa mặc cho cuộc sống thời buổi kinh tế thị trường hôm nay có hối hả đến đâu. Chuyện những người “cõng phim” vẫn còn đó với những kỷ niệm vui có, buồn có, có những chuyện cảm động rơi nước mắt và cũng có cả những câu chuyện hài hước gây cười… Tuy vẫn còn tồn tại rất nhiều những khó khăn, vất vả và thiếu thốn đối với những cán bộ chiếu phim lưu động nhưng trên cả vẫn là tình yêu, sự kiên nhẫn và lòng nhiệt huyết của họ đối với nghề, với quân dân…

KO Dòm Sưu tầm

Theo thegioidienanh.vn

Viết bình luận mới

[Member Login]